30

THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ

1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Lim Bouyheak               2. Giới tính: Nữ                                                                               

3. Ngày sinh: 6/10/1984                                                4. Nơi sinh: Campuchia                                                                               

5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số: 1808/ QĐ-CTHSSV, ngày 16 tháng 12 năm 2016                                                   

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo:                                                                                                                      

Luận án tiến sĩ đầu tiên được giao có tiêu đề “Trị liệu chấp nhận và cam kết cho bệnh nhân có rối loại trầm cảm (The effectiveness of ACT for clients with depression at Maryknoll Mental Health Program)”, có quyết định số QĐ 2073/QD-ĐT ngày 30/12/2016, được ban hành bởi Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.

Tên luận án được đổi thành: “Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý xã hội lên hành vi lái xe nguy cơ ở vị thành niên Campuchia (The effect of psychosocial factors on risky driving behaviors among Cambodian adolescents)”, theo Quyết định số 513/QĐ-ĐHGD ngày 14/03/2018 của Hiệu trưởng của Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.

Gia hạn thời gian học tập 2 năm tại Quyết định số:2146/QĐ-ĐHGD, ngày 03/12/2019 và Quyết định số 2063/QĐ-ĐHGD, ngày 14/12/2020

Buộc thôi học tại Quyết định số 2553/QĐ-ĐHGD, ngày 31/12/2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục

Được phép quay trở lại Trường để bảo vệ luận án 2377/QĐ-ĐHGD, ngày 14/09/2023 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục.

7. Tên đề tài luận án: Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý xã hội lên hành vi lái xe nguy cơ ở vị thành niên Campuchia

8. Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên  9. Mã số: 9310401.01

10. Cán bộ hướng dẫn khoa học:                                                                                                  

Cán bộ hướng dẫn 1: GS.TS. Đặng Hoàng Minh

Cán bộ hướng dẫn 2: GS.TS. Cindy J. Lahar

11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án:                                                                                                   

Nghiên cứu này phù hợp với các quan điểm lý thuyết cho rằng những thanh thiếu niên nhận thức hành vi lái xe nguy hiểm của bạn bè họ (ảnh hưởng của bạn bè) có điểm cao hơn ở cả bốn loại hành vi lái xe nguy hiểm: lái xe hung hăng, lái xe trong tình trạng say xỉn, lái xe mất tập trung và vi phạm luật giao thông khi đang lái xe. Tương tự, việc tìm kiếm cảm giác cũng dự đoán một cách có thống kê và theo chiều thuận bốn loại hành vi lái xe nguy hiểm. Nghiên cứu này mang lại kết quả tương tự rằng các hành vi lệch chuẩn chống đối xã hội, bao gồm các hành vi vi phạm quy tắc và hành vi hung tính – dự đoán một cách đáng kể và theo chiều thuận cả bốn loại hành vi lái xe nguy hiểm. Ngoài ra, nghiên cứu này không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức rủi ro và bất kỳ loại hành vi lái xe rủi ro nào.

Khi xem xét sâu hơn về mối liên hệ giữa việc vi phạm quy tắc chung và vi phạm luật lái xe, nghiên cứu này cho thấy thanh thiếu niên nữ có mức độ vi phạm quy tắc chung cao sẽ có mức độ vi phạm luật lái xe cao hơn so với nhóm nam. Tương tự, giới tính điều tiết có ý nghĩa thống kê mối quan hệ giữa ảnh hưởng của bạn bè và hành vi lái xe mất tập trung. Nữ giới có nhiều hành vi lái xe mất tập trung hơn nam giới do nhận thức của họ về hành vi lái xe nguy hiểm của bạn bè họ (ảnh hưởng đồng trang lứa). Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy sự điều tiết có ý nghĩa thống kê của giới tính đối với mối liên hệ giữa ảnh hưởng đồng trang lứa và việc vi phạm luật lái xe khi lái xe. Việc lái xe mạo hiểm của bạn bè họ ảnh hưởng nhiều hơn đến thanh thiếu niên nữ trong việc vi phạm luật lái xe khi lái xe so với thanh thiếu niên nam.

Điều thú vị là độ tuổi mà thanh thiếu niên bắt đầu lái xe không phải là yếu tố điều tiết mối quan hệ giữa các yếu tố rủi ro có thể thay đổi độc lập (ví dụ: hành vi lái xe của bạn bè) và các hành vi lái xe nguy hiểm (ví dụ: lái xe mất tập trung). Có bốn mối tương tác có ý nghĩa thống kê tồn tại giữa Số km trung bình lái xe mỗi ngày và các yếu tố tâm lý xã hội. Tất cả các tương tác có ý nghĩa thống kê đều cho thấy cùng một mô hình, trong đó thanh thiếu niên lái xe nhiều mỗi ngày cho thấy mối quan hệ mạnh mẽ hơn giữa các biến số phụ thuộc và biến số độc lập so với thanh thiếu niên lái xe tương đối ít trong một ngày.

12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: (nếu có)

Chính sách của chính phủ nhằm giảm thiểu tình trạng lái xe nguy hiểm ở thanh thiếu niên có thể tiếp cận theo hướng cung cấp các chương trình y tế công cộng để giúp nhận thức của thanh thiếu niên về việc lái xe của bạn bè cùng trang lứa trở nên chính xác hơn. Trong nghiên cứu này, yếu tố điều tiết về số vụ tai nạn mà thanh thiếu niên gặp phải được phát hiện là có liên quan đến mối quan hệ gia tăng giữa các yếu tố rủi ro tâm lý và hành vi lái xe nguy hiểm. Điều này cho thấy một mục tiêu can thiệp y tế công cộng khả thi khác nhằm giảm hành vi lái xe nguy hiểm ở thanh thiếu niên là khiến thanh thiếu niên nhận thức rõ hơn về hậu quả tiềm ẩn của tai nạn lái xe (ví dụ: số người bị liệt ở Campuchia do tai nạn lái xe).         

Đối với các chương trình hoặc biện pháp can thiệp an toàn đường bộ, điều quan trọng là phải điều chỉnh chương trình dựa trên các nhóm tuổi và giới tính vì tuổi tác và giới tính có liên quan đến hành vi lái xe nguy hiểm. Ví dụ, độ tuổi thanh thiếu niên có nhiều nguy cơ hơn trong bất kỳ hoạt động nào liên quan đến sức khỏe, bao gồm cả các hành vi lái xe nguy hiểm, do giai đoạn phát triển của họ khi não, cơ thể, tâm trí và nhận thức của các em liên tục thay đổi nhanh chóng. Các em có xu hướng tham gia vào các hoạt động mạo hiểm và hành vi lái xe vì ảnh hưởng của bạn bè đồng trang lứa và xu hướng tìm kiếm cảm giác mạnh, vi phạm quy tắc và các hành vi hung tính. Để ngăn chặn các hành vi lái xe nguy hiểm, điều quan trọng là tạo cho các em cơ hội thay đổi trong các tình huống hoặc hoạt động tích cực như các môn thể thao mạo hiểm, các hoạt động sáng tạo và có cường độ cao, hoặc để các em tham gia vào chiến dịch an toàn đường bộ có liên quan. Chương trình an toàn đường bộ cũng nên xem xét trao quyền cho thanh niên và bạn bè của các em trong việc tham gia nhiều hơn vào các chương trình an toàn đường bộ hoặc đào tạo lái xe có liên quan, để các em có sự phát triển tích cực hơn. Khi cung cấp can thiệp hoặc đào tạo cho các nhóm thanh thiếu niên, việc cân nhắc sự hỗ trợ và tham gia của phụ huynh sẽ rất có lợi. Như đã được chứng minh trong các nghiên cứu trước đây, sự hỗ trợ của cha mẹ có tác động gián tiếp và trực tiếp đến hành vi lái xe nguy hiểm của con cái họ. Hơn nữa, đào tạo hoặc nâng cao nhận thức về an toàn giao thông đường bộ cần chú ý nhiều hơn đến ảnh hưởng đồng trang lứa và các yếu tố tâm lý cá nhân khác mà có thể tác động đến cách ứng xử của thanh thiếu niên hay việc tham gia vào các hành vi lái xe nguy hiểm và các hoạt động gây nguy hiểm khác cho sức khỏe, thay vì nhận thức về rủi ro của cá nhân họ.

13. Những hướng nghiên cứu tiếp theo: (nếu có)

Việc xác nhận hướng quan hệ nhân quả giữa các yếu tố nguy cơ lái xe nguy hiểm và tâm lý xã hội trong các nghiên cứu tương lai là quan trọng. Nếu hướng quan hệ nhân quả được xác nhận, các nghiên cứu về yếu tố rủi ro tâm lý xã hội trong luận án này nên là mục tiêu can thiệp chính của y tế công cộng. Thứ hai, nghiên cứu trong tương lai cũng sẽ rất quan trọng để xác định tính chính xác trong nhận thức của thanh thiếu niên Campuchia về hành vi lái xe của bạn bè đồng trang lứa. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng thanh thiếu niên có xu hướng đánh giá quá cao những hành vi nguy hiểm của bạn bè cùng trang lứa, bao gồm cả hành vi lái xe (Bingham và cộng sự, 2016; Geber và cộng sự, 2021).

Các nghiên cứu trong tương lai nên khám phá sự khác biệt giữa người điều khiển xe máy và ô tô cũng như sự khác biệt về các nhóm tuổi, chẳng hạn như thanh thiếu niên, thanh niên và người lớn, để hiểu các mô hình hành vi cụ thể trong mỗi nhóm. Bởi vì hành vi của con người phức tạp hơn nên các nghiên cứu trong tương lai cần xem xét các yếu tố rủi ro, yếu tố bảo vệ và hành vi lái xe rủi ro trong các phân tích phức tạp hơn, chẳng hạn như phân tích phương trình cấu trúc, để hiểu vấn đề này.

Nghiên cứu này là nghiên cứu định lượng và không bao gồm các cuộc phỏng vấn định tính người tham gia. Các cuộc phỏng vấn định tính có thể cung cấp thêm thông tin chi tiết về kết quả nghiên cứu, chẳng hạn như những trường hợp chính xác hơn mà thanh thiếu niên lái xe trong tình trạng say rượu. Đây cũng sẽ là một lĩnh vực hữu ích cho nghiên cứu trong tương lai.

14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án:                                                                                

 (2022).  Relations between behavioral risk factors and risky driving among Cambodian adolescents.  Proceedings of the International Scientific Conference on the World in Crisis (pp. 207 – 216). Vietnam National University Press.

 (2023).  Relations between risk perception, perceptions of peers’ driving, and risky driving among Cambodian adolescents.  Frontiers in Psychology: Personality and Social Psychology, 14, doi: 10.3389/fpsyg.2023.1238945

    Retrieved from http://journal.frontiersin.org/article/10.3389/fpsyg.2023.1238945/full?&utm_source=Email_to_authors_&utm_medium=Email&utm_content=T1_11.5e1_author&utm_campaign=Email_publication&field=

&journalName=Frontiers_in_Psychology&id=1238945

Ngày       tháng     năm 200

Nghiên cứu sinh

(Kí và ghi rõ họ tên)

 

 

 

INFORMATION ON DOCTORAL DISSERTATION

 

 

1. First and last name of Ph.D.student: Lim Bouyheak                           2. Gender: Female                                                                               

3. Date of birth: October 06, 1984                                                           4. Place of birth: Cambodia                                                                

5. Admission decision number: 1808/ QĐ-CTHSSV  , day 16 month 12 year 2016                                                                        

6. Changes in academic process:

The first assigned doctoral dissertation was titled “The effectiveness of ACT for clients with depression at Maryknoll Mental Health Program”, with decision number QĐ 2073/QĐ-ĐT on 30/12/2016 from Rector of VNU University of Education.

The dissertation title was changed into: “The effect of psychosocial factors on risky driving behaviors among Cambodian adolescents”, as decision number 513/QĐ-ĐHGD ngày 14/03/2018 from Rector of VNU University of Education.

Extension of study time for 2 years in Decision No. 2146/QĐ-ĐHGD, dated December 3, 2019, and Decision No. 2063/QĐ-ĐHGD, dated December 14, 2020 from Rector of VNU University of Education..

Expulsion in Decision No. 2553/QĐ-ĐHGD, dated December 31, 2021, from Rector of VNU University of Education..

Allowed to return to the University to defend thesis 2377/QĐ-ĐHGD, dated September 14, 2023, from Rector of VNU University of Education.

7. Dissertation title: The effect of psychosocial factors on risky driving behaviors among Cambodian adolescents

8. Major: child and adolescent clinical psychology       9. Code: 9210401.01

10: Supervisors: (clearly list academic title, degree, full name)

1st Supervisor: Professor Dang Hoang Minh, PhD

2nd Supervisor: Professor Cindy J. Lahar, PhD

11. Summary of new findings of dissertation: (list a summary of new results of dissertation)

This study is in line with these theoretical concepts that adolescents who perceived their friends' risky driving behaviors (peer influence) reported higher scores in all four types of risky driving behaviors: aggressive driving, intoxicated driving, distracted driving, and violating the traffic law while driving. Similarly, sensation seeking significantly and positively predicted the four types of risky driving behaviors. This study yielded the same results that antisocial deviant behaviors, including rule-breaking behaviors and aggressive behaviors – significantly and positively predicted all four types of risky driving behaviors. Interestingly, this study did not find a significant association between risk perception and any type of risky driving behaviors. 

When looking further at the association between general rule breaking and violating the driving law, this study found that female adolescents with high levels of general rule breaking reported higher levels of violating the driving law when compared to the male group. Similarly, gender significantly moderated the relation between peer influence and distracted driving behaviors. Females were more involved in distracted driving behaviors than males due to their perception of their friends' risky driving behaviors (peer influence). Additionally, this study yielded a significant moderation of gender on the association between peer influence and violating the driving law while driving. Their friends' risky driving more influenced female adolescents regarding its association with violating the driving law while driving compared to male adolescents.

Interestingly, the age at which the adolescent began driving was not a moderator of relations between the independent variable risk factors (e.g., Friends’ Driving) and risky driving behaviors (e.g., Distracted Driving). Four significant interactions existed between the Average Number of Kilometers Driven per Day and the psychosocial factors. All the significant interactions showed the same pattern, with adolescents driving a lot per day showing a stronger relation between the dependent and independent variables than adolescents who drive relatively little in a day.

12. Practical application: (if any)

One potentially useful approach for government policy to reduce adolescent risky driving will be providing public health programs to make adolescents’ perceptions of their peers’ driving more accurate. In this study, one moderator finding was that the number of accidents an adolescent experienced was associated with an increased relation between psychosocial risk factors and risky driving behaviors. This suggests that another possible public health intervention target to reduce adolescent risky driving behavior might be making adolescents more aware of the potential consequences of driving accidents (e.g., the number of people paralyzed in Cambodia from driving accidents).         

For road safety programs or interventions, it will be important to tailor the programs based on age and gender groups because age and gender are related to risky driving behaviors. For example, the adolescent population is more at risk in any health-related activity, including risky driving behaviors, due to their developmental period when their brain, body, mind, and cognition keep changing rapidly. They tend to be involved in risky activities and driving behaviors because of their peer influence and tendency to seek sensation, rule-breaking, and aggressive behaviors. To prevent them from risky driving behaviors, it is important to offer them the opportunities to alter in positive situations or activities such as adventure sports, creative and intense activities, or a relevant road safety campaign or completion. The road safety program should also consider incorporating positive youth development to empower youths and their peers to get involved more in the relevant road safety programs or driving training. When providing intervention or training to adolescent groups, it is beneficial to consider parental support and involvement. As supported in the previous studies, parental support had an indirect and direct effect on their children’s risky driving behaviors. Furthermore, road safety training or awareness raising should pay more attention to peer influence and the other personal psychological factors that affect how adolescents behave or are involved in risky driving behaviors or any health-risk activity rather than their personal risk perception. 

13. Future research direction: (if any)

It will be important for future research to confirm the direction of causality among risky driving and psychosocial risk factors. If the direction of causality is confirmed, then the psychosocial risk factors studies in this dissertation should be key public health intervention targets. Second, future research will also be important to determine the accuracy of Cambodian adolescents' perceptions of their peers' driving behaviors. Research has found that adolescents tend to overestimate their peers' risky behaviors, including driving behavior (Bingham et al., 2016; Geber et al., 2021).

Future studies should explore the difference between motorcycle and car drivers and the difference in age groups, such as adolescents, young adults, and adults, to understand the particular behavioral patterns in each group. Because human behaviors are more complex, future studies should examine the risk factors, protective factors, and risky driving behaviors in more complex analyses, such as structural equation analysis, to comprehend this matter.

This study was quantitative research and did not include qualitative participant interviews. Qualitative interviews might have provided more details regarding study results, such as more precise circumstances under which adolescents engaged in intoxicated driving. This also would be a useful area for future research.

14. Thesis-related publication

 (2022).  Relations between behavioral risk factors and risky driving among Cambodian adolescents.  Proceedings of the International Scientific Conference on the World in Crisis (pp. 207 – 216). Vietnam National University Press.

 (2023).  Relations between risk perception, perceptions of peers’ driving, and risky driving among Cambodian adolescents.  Frontiers in Psychology: Personality and Social Psychology, 14, doi: 10.3389/fpsyg.2023.1238945

    Retrieved from http://journal.frontiersin.org/article/10.3389/fpsyg.2023.1238945/full?&utm_source=Email_to_authors_&utm_medium=Email&utm_content=T1_11.5e1_author&utm_campaign=Email_publication&field=

&journalName=Frontiers_in_Psychology&id=1238945

 

Day 22 month 08 year 2024

Ph.D.student

(Sign and write full name)

                                                                          

                                                                               Lim Bouyheak

Danh mục luận án Tiến sĩ mới
  • Thông báo tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Thành

    BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thành với đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ theo tiếp cận Reggio Emilia cho trẻ mẫu giáo tại các cơ sở giáo dục mầm non” Chuyên ngành: Quản lí giáo dục Mã số: 9140114 Thời gian: 14 giờ 00’, ngày 04 tháng 03 năm 2026 Địa điểm họp trực tiếp: Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà G7, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Kính mời các đồng chí quan tâm tới dự.
  • Thông báo tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của NCS Đinh Thị Hương Hai

    BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đinh Thị Hương Hai với đề tài: “Quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Ngôn ngữ Nhật theo tiếp cận có sự tham gia”. Chuyên ngành: Quản lí giáo dục Mã số: 9140114 Thời gian: 14 giờ 00,  ngày 03 tháng 02 năm 2026 Địa điểm họp trực tiếp: Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà G7, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Kính mời các đồng chí quan tâm tới dự.
  • Thông báo bảo vệ LATS cấp ĐHQG đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hống Mến

    Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi bảo vệ cấp Đại học Quốc gia đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hống Mến, với đề tài:
  • Thông báo tổ chức buổi đánh giá luận án Tiến sĩ của NCS Lưu Văn Thông

    BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lưu Văn Thông với đề tài: “Phát triển đội ngũ giáo viên môn khoa học tự nhiên ở các trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực” Chuyên ngành: Quản lí giáo dục Mã số: 9140114 Thời gian: 14 giờ 00’, ngày 30 tháng 01 năm 2026 Địa điểm họp trực tiếp: Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà G7, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Kính mời các đồng chí quan tâm tới dự.
  • Thông tin về luận án tiến sĩ của NCS Dương Thị Thu Huyền

    THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ 1. Họ và tên nghiên cứu sinh:Dương Thị Thu Huyền         2. Giới tính:Nữ 3. Ngày sinh: 10/08/1986                                                    4. Nơi sinh:Thanh Hóa 5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số:số: 2120/QĐ-ĐHGD ngày 16/12/2020 6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo:  được giao đề tài tiến sĩ: “Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong các học phần tiếng Anh tại các trường đại học theo tiếp cận năng lực”, tại QĐ số 703/QĐ-ĐT ngày 28/4/2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục.  chỉnh sửa tên đề tài thành: “Quản lý đánh giá kết quả học tập học phần tiếng Anh của sinh viên theo tiếp cận năng lực: Nghiên cứu trường hợp tại Đại học Quốc Gia Hà Nội”, tại QĐ số 3001/QĐ-ĐT ngày 20/11/2023 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.  được gia hạn lần 1 theo QĐ số 3150 QĐ/ĐHGD ngày 13/12/2023 trong 12 tháng của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.  được gia hạn lần 2 theo QĐ số 3720 QĐ/ĐHGD ngày 10/12/2024 trong 12 tháng của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN 7. Tên đề tài luận án: Quản lý đánh giá kết quả học tập học phần tiếng Anh của sinh viên theo tiếp cận năng lực: Nghiên cứu trường hợp tại Đại học Quốc Gia Hà Nội 8. Chuyên ngành: Quản lý giáo dục  9. Mã số:  9140114.01 10. Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Ngọc Hùng và PGS.TS Nguyễn Đức Sơn 11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án:  Luận án đã đóng góp một cách hệ thống và toàn diện vào lĩnh vực quản lý đánh giá kết quả học tập (ĐGKQHT) học phần tiếng Anh theo tiếp cận năng lực trong giáo dục đại học, thông qua việc xây dựng cơ sở lý luận vững chắc, khảo sát thực tiễn sâu rộng và đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi cao. Trước hết, nghiên cứu đã làm rõ những khái niệm, nguyên tắc, hình thức và mô hình đánh giá hiện đại, đồng thời xác định các thành tố cơ bản của quản lý đánh giá theo tiếp cận năng lực, góp phần hoàn thiện khung lý luận và tạo nền tảng tham chiếu quan trọng cho việc vận dụng tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Luận án cũng phát triển mô hình TICAM-EC, một mô hình quản lý đánh giá theo tiếp cận năng lực có tích hợp công nghệ, phản ánh xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục và cho phép giải thích mạch lạc mối quan hệ giữa các yếu tố: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, kiểm soát và phản hồi dữ liệu đánh giá. Bên cạnh đó, luận án cung cấp một bức tranh thực tiễn toàn diện về hoạt động đánh giá và quản lý đánh giá học phần tiếng Anh tại Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), thông qua khảo sát ba nhóm đối tượng: cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên. Kết quả khảo sát cho thấy hệ thống đánh giá đã có những chuyển biến tích cực trong việc tiệm cận tiếp cận năng lực, như đa dạng hóa hình thức đánh giá, ứng dụng công nghệ và tăng cường phản hồi. Tuy nhiên, những hạn chế cũng được nhận diện rõ, bao gồm: sự chưa đồng bộ về quy trình và tiêu chí đánh giá giữa các đơn vị; năng lực đánh giá chưa thống nhất trong đội ngũ giảng viên; mức độ ứng dụng công nghệ còn khác biệt; cơ chế phản hồi và giám sát chưa thật sự hiệu quả; và sự phối hợp liên cấp còn chưa chặt chẽ. Những phát hiện này giúp nhận diện những điểm nghẽn trong quản lý ĐGKQHT và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đánh giá như chính sách, nguồn lực, trình độ đội ngũ và đặc điểm người học. Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất một hệ thống giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả ĐGKQHT học phần tiếng Anh theo tiếp cận năng lực tại ĐHQGHN. Các giải pháp bao gồm: phát triển kế hoạch đánh giá đa dạng; nâng cao năng lực giảng viên về đánh giá năng lực; thiết lập hệ thống phản hồi liên tục cho sinh viên; thúc đẩy cá nhân hóa học tập; tăng cường ứng dụng công nghệ trong theo dõi tiến bộ và phân tích dữ liệu; và đẩy mạnh hoạt động báo cáo, giám sát để đảm bảo cải tiến thường xuyên. Kết quả khảo nghiệm cho thấy các giải pháp đều có mức độ cần thiết và khả thi cao. Đặc biệt, việc thử nghiệm giải pháp ứng dụng nền tảng LMS trong quản lý đánh giá đã chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong việc hỗ trợ theo dõi tiến trình, tăng cường minh bạch và nâng cao kết quả học tập của sinh viên. Đây là đóng góp nổi bật, có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt và có thể mở rộng sang các cơ sở giáo dục đại học tương tự. 12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:  Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có khả năng ứng dụng trực tiếp và rộng rãi tại ĐHQGHN cũng như các cơ sở giáo dục đại học có bối cảnh tương đồng. Các giải pháp không chỉ góp phần chuẩn hóa quy trình đánh giá theo tiếp cận năng lực mà còn nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc tích hợp công nghệ và tăng cường thu thập, phân tích dữ liệu. Việc áp dụng các nền tảng LMS (như Microsoft Teams, Moodle) cho phép giảng viên và cán bộ quản lý theo dõi tiến trình học tập của sinh viên, lưu trữ minh chứng đánh giá, tự động tổng hợp kết quả và hỗ trợ ra quyết định chính xác hơn. Điều này đặc biệt phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục, giúp giảm tải khối lượng công việc và tăng tính minh bạch, nhất quán trong đánh giá. Bên cạnh đó, các giải pháp liên quan đến nâng cao năng lực giảng viên, thiết lập hệ thống phản hồi và cá nhân hóa học tập giúp cải thiện chất lượng dạy, học một cách bền vững. Khi quy trình đánh giá được chuẩn hóa và đội ngũ giảng viên có năng lực thiết kế, chấm bài theo chuẩn năng lực, chất lượng đầu ra của sinh viên sẽ ổn định và phù hợp hơn với mục tiêu đào tạo. Do vậy, luận án mang lại giá trị ứng dụng thiết thực, có thể triển khai ngay và dễ dàng điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhiều cơ sở đào tạo. 13. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:  Từ kết quả nghiên cứu hiện tại, nhiều hướng phát triển tiếp theo có thể được triển khai nhằm mở rộng và hoàn thiện mô hình quản lý đánh giá theo tiếp cận năng lực. Thứ nhất, nghiên cứu có thể mở rộng sang các học phần tiếng Anh chuyên ngành hoặc các môn học khác để đánh giá mức độ tương thích của mô hình với các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng khác nhau. Thứ hai, việc áp dụng các công cụ phân tích dữ liệu lớn (learning analytics) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong đánh giá và quản lý đánh giá cũng là một hướng đi tiềm năng, giúp dự báo kết quả học tập, cá nhân hóa lộ trình và cải thiện độ chính xác của phản hồi. Ngoài ra, các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào đánh giá tác động dài hạn của các giải pháp quản lý đã đề xuất, đặc biệt là tác động đến chất lượng đầu ra của sinh viên, năng lực giảng viên và hiệu quả vận hành của các đơn vị. Cuối cùng, cần có các nghiên cứu so sánh giữa các cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế để hoàn thiện mô hình quản lý phù hợp với xu hướng hội nhập và chuẩn hóa toàn cầu. 14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án:  1. Dương Thị Thu Huyền. (2021). Quan điểm nghiên cứu trong quản lý giáo dục và vai trò của lãnh đạo. Tạp chí Quản lý giáo dục, 13(7), 1-6. 2. Đỗ Thanh Tú & Dương Thị Thu Huyền. (2021). Management of human resources in education. ICRMAT, 49-53. 3. Dương Thị Thu Huyền. (2021). Đánh giá kết quả học tập trong giảng dạy ngoại ngữ. Tạp chí Quản lý giáo dục, 13(9), 68-74. 4. Dương Thị Thu Huyền. (2021). E-portfolios: A new formative writing assessment trend. Journal of Education Management, 13(9A), 304-309. 5. Dương Thị Thu Huyền & Đỗ Thanh Tú. (2022). The role of teacher leaders in language classrooms: A case study in National Academy of Education Management, Vietnam. ICRMAT, 15-20. 6. Đỗ Thị Hồng Liên & Dương Thị Thu Huyền. (2022). Sự tiếp nhận của giảng viên thỉnh giảng về việc triển khai hoạt động đổi mới đánh giá chương trình tiếng Anh dự bị tại Trường Quốc tế, ĐHQGHN. Tạp chí Giáo dục, 22(7), 177-181. 7. Dương Thị Thu Huyền. (2023). Learning about language testing literacy at Vietnam National University, Hanoi International School: A case study. The 3rd Hanoi Forum on Pedagogical and Educational Sciences 2023: Respecting different perspectives through scientific thinking, 386-397. 8. Dương Thị Thu Huyền. (2024). Utilizing technology to assess English learning outcomes of students based on a competency-based approach. ICTE Conference Proceedings, 5, 49-63. 9. Dương, T. T. H. (2023). Reconceptualizing assessment in English-medium instruction: Challenges, perspectives, and solutions in the Vietnamese higher educational sphere.  Proceedings of Teaching English for Specific Purposes: Perspectives, Policies, and Practices, an International Conference (pp. 26-37). 10. Meniado, J. C., Huyen, D. T. T., Panyadilokpong, N., & Lertkomolwit, P. (2024). Using ChatGPT for second language writing: Experiences and perceptions of EFL learners in Thailand and Vietnam. Computers and Education: Artificial Intelligence, 100313. 11. Dương Thị Thu Huyền. (2024). An appeal for language assessment literacy in professional development programs for English language teachers. Journal of Education Management, 16(8), 157-164. DOI: 10.53750/jem23.v16n8.157. 12. Dương, H. T. T. (2024). Competency-Based Assessment in English Language Learning. Proceedings of the International Scientific and Educational Excellence (ISEE). Vietnam National University, Hanoi. 13. Dương, H. T. T., Trần, H. H., & Đặng, T. T. (2024). The Role of Technology in Competency-Based Assessment. Proceedings of the International Scientific and Educational Excellence (ISEE). Vietnam National University, Hanoi. 14. Dương Thị Thu Huyền, & Lê Ngọc Hùng. (2025). Lý thuyết và thực tiễn đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực. Tạp chí Khoa học -  Nghiên cứu Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội   Ngày    25   tháng   11  năm 2025         Nghiên cứu sinh     Dương Thị Thu Huyền   INFORMATION ON DOCTORAL THESIS 1. Full name : Dương Thị Thu Huyền                    2. Sex: Female 3. Date of birth: 10 August 1986 4. Place of  birth: Thanh Hoa province 5. Admission decision number: 2120/QĐ-ĐHGD  Date: 16 December 2020 6. Changes in academic process:  - Assigned the doctoral dissertation topic “Management of Assessment Activities for English Course Learning Outcomes in Universities Based on the Competency-Based Approach” under Decision No. 703/QĐ-ĐT dated April 28, 2021, issued by the Rector of the University of Education. - Revised the dissertation title to “Managing the Assessment of Students’ English Course Learning Outcomes Based on a Competency-Based Approach: A Case Study at Vietnam National University, Hanoi” under Decision No. 3001/QĐ-ĐT dated November 20, 2023, issued by the Rector of the University of Education, VNU. - granted the first extension under Decision No. 3150/QĐ-ĐHGD dated 13 December 2023 for 12 months, issued by the Rector of the University of Education, Vietnam National University, Hanoi (VNU). - granted the second extension under Decision No. 3720/QĐ-ĐHGD dated 10 December 2024 for 12 months, issued by the Rector of the University of Education, Vietnam National University, Hanoi (VNU). 7. Official thesis title: Managing the Assessment of Students’ English Course Learning Outcomes Based on a Competency-Based Approach: A Case Study at Vietnam National University, Hanoi 8. Major:  Educational Management  9. Code:   9140114.01 10. Supervisors: Prof. Dr. Le Ngoc Hung and Assoc. Prof. Dr. Nguyen Duc Son (Full name, academic title and degree) 11. Summary of the new findings of the thesis:  The dissertation offers systematic and comprehensive contributions to the field of managing the assessment of English course learning outcomes within a competency-based approach in higher education. It establishes a solid theoretical foundation, conducts an extensive empirical investigation, and proposes a set of highly feasible management solutions. First, the study clarifies key concepts, principles, forms, and contemporary models of assessment, and identifies the essential components of competency-based assessment management. These contributions help refine the theoretical framework and provide an important reference for application in Vietnamese higher education institutions. The dissertation also develops the TICAM-EC model, an assessment management model integrating the competency-based approach with technology, reflecting the trend of digital transformation in education and systematically illustrating the interconnections among planning, organization, direction, coordination, control, and data-driven feedback. In addition, the dissertation presents a comprehensive empirical picture of assessment practices and assessment management for English courses at Vietnam National University, Hanoi (VNU), based on surveys conducted with three groups: managers, lecturers, and students. Findings reveal positive developments aligned with the competency-based approach, including diversified assessment methods, increased use of technology, and enhanced feedback mechanisms. However, several limitations remain evident, such as inconsistencies in assessment procedures and criteria across units; varying levels of assessment competence among lecturers; uneven integration of technology; ineffective feedback and monitoring mechanisms; and insufficient coordination across management levels. These findings help identify bottlenecks in assessment management and highlight the factors that strongly influence assessment quality, including policies, resources, staff capacity, and learner characteristics. Drawing on both theoretical and empirical evidence, the dissertation proposes a system of management solutions to improve the effectiveness of competency-based assessment of English course learning outcomes at VNU. These solutions include: developing diverse assessment plans; strengthening lecturers’ competence in competency-based assessment; establishing continuous student feedback systems; promoting personalized learning; enhancing the use of technology to track progress and analyze data; and improving reporting and monitoring practices to support ongoing improvement. The validation results indicate that all proposed solutions are perceived as highly necessary and feasible. Notably, the pilot implementation of LMS-based assessment management demonstrated clear effectiveness in supporting progress tracking, ensuring transparency, and improving student learning outcomes. This represents a significant and practically valuable contribution that can be scaled to other higher education institutions with similar contexts. 12. Practical applicability, if any: The system of solutions proposed in the dissertation can be directly and widely applied at VNU as well as other higher education institutions with similar conditions. These solutions not only help standardize assessment procedures under a competency-based approach but also enhance management effectiveness through the integration of technology and the strengthening of data collection and analysis. The implementation of LMS platforms (such as Microsoft Teams or Moodle) enables lecturers and administrators to track student progress, store assessment evidence, automate result synthesis, and support more accurate decision-making. This is especially aligned with current requirements for digital transformation in education, reducing workload while increasing transparency and consistency in assessment. Furthermore, solutions related to enhancing lecturers’ assessment competence, establishing systematic feedback channels, and personalizing learning contribute to long-term improvements in teaching and learning quality. When assessment procedures are standardized and lecturers are equipped to design and evaluate tasks using competency-based criteria, student learning outcomes become more consistent and aligned with program objectives. Therefore, the dissertation offers practical value that can be implemented immediately and easily adapted to the conditions of various higher education institutions. 13. Further research directions, if any:  Based on the current findings, several future research directions can be pursued to further extend and refine the competency-based assessment management model. First, research may be expanded to English for Specific Purposes (ESP) courses or other subject areas to examine the model’s adaptability to different domains of knowledge and skill sets. Second, the application of learning analytics and artificial intelligence (AI) in assessment and assessment management presents a promising avenue, enabling prediction of learning outcomes, personalized learning pathways, and more accurate and timely feedback. In addition, future studies may focus on evaluating the long-term impacts of the proposed management solutions, particularly their effects on student learning outcomes, lecturer competence, and institutional management effectiveness. Finally, comparative studies between domestic and international institutions would help refine the management model to better align with global trends in competency-based education and assessment standardization. 14. Thesis-related publications:  Dương Thị Thu Huyền. (2021). Quan điểm nghiên cứu trong quản lý giáo dục và vai trò của lãnh đạo. Tạp chí Quản lý giáo dục, 13(7), 1-6. 2. Đỗ Thanh Tú & Dương Thị Thu Huyền. (2021). Management of human resources in education. ICRMAT, 49-53. 3. Dương Thị Thu Huyền. (2021). Đánh giá kết quả học tập trong giảng dạy ngoại ngữ. Tạp chí Quản lý giáo dục, 13(9), 68-74. 4. Dương Thị Thu Huyền. (2021). E-portfolios: A new formative writing assessment trend. Journal of Education Management, 13(9A), 304-309. 5. Dương Thị Thu Huyền & Đỗ Thanh Tú. (2022). The role of teacher leaders in language classrooms: A case study in National Academy of Education Management, Vietnam. ICRMAT, 15-20. 6. Đỗ Thị Hồng Liên & Dương Thị Thu Huyền. (2022). Sự tiếp nhận của giảng viên thỉnh giảng về việc triển khai hoạt động đổi mới đánh giá chương trình tiếng Anh dự bị tại Trường Quốc tế, ĐHQGHN. Tạp chí Giáo dục, 22(7), 177-181. 7. Dương Thị Thu Huyền. (2023). Learning about language testing literacy at Vietnam National University, Hanoi International School: A case study. The 3rd Hanoi Forum on Pedagogical and Educational Sciences 2023: Respecting different perspectives through scientific thinking, 386-397. 8. Dương Thị Thu Huyền. (2024). Utilizing technology to assess English learning outcomes of students based on a competency-based approach. ICTE Conference Proceedings, 5, 49-63. 9. Dương, T. T. H. (2023). Reconceptualizing assessment in English-medium instruction: Challenges, perspectives, and solutions in the Vietnamese higher educational sphere.  Proceedings of Teaching English for Specific Purposes: Perspectives, Policies, and Practices, an International Conference (pp. 26-37). 10. Meniado, J. C., Huyen, D. T. T., Panyadilokpong, N., & Lertkomolwit, P. (2024). Using ChatGPT for second language writing: Experiences and perceptions of EFL learners in Thailand and Vietnam. Computers and Education: Artificial Intelligence, 100313. 11. Dương Thị Thu Huyền. (2024). An appeal for language assessment literacy in professional development programs for English language teachers. Journal of Education Management, 16(8), 157-164. DOI: 10.53750/jem23.v16n8.157. 12. Dương, H. T. T. (2024). Competency-Based Assessment in English Language Learning. Proceedings of the International Scientific and Educational Excellence (ISEE). Vietnam National University, Hanoi. 13. Dương, H. T. T., Trần, H. H., & Đặng, T. T. (2024). The Role of Technology in Competency-Based Assessment. Proceedings of the International Scientific and Educational Excellence (ISEE). Vietnam National University, Hanoi. 14. Dương Thị Thu Huyền, & Lê Ngọc Hùng. (2025). Lý thuyết và thực tiễn đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực. Tạp chí Khoa học -  Nghiên cứu Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội   Date:  Signature:                                                                                  Full name: Dương Thị Thu Huyền  
  • Thông báo tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của NCS Dương Thị Thu Huyền

    BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Dương Thị Thu Huyền với đề tài: “Quản lí đánh giá kết quả học tập học phần tiếng Anh của sinh viên theo tiếp cận năng lực: Nghiên cứu trường hợp tại Đại học Quốc gia Hà Nội” Chuyên ngành: Quản lí giáo dục Mã số: 9140114 Thời gian: 8 giờ 30’, ngày 21 tháng 01 năm 2026 Địa điểm họp trực tiếp: Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà G7, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Kính mời các đồng chí quan tâm tới dự.
  • Thông báo tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Hoà

    BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoà với đề tài: “Quản lí văn hoá nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi” Chuyên ngành: Quản lí giáo dục Mã số: 9140114 Thời gian: 8 giờ 30’, ngày 14 tháng 01 năm 2026 Địa điểm họp trực tiếp: Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội              Nhà G7, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Kính mời các đồng chí quan tâm tới dự.

Cơ hội khi trở thành sinh viên

trường đại học giáo dục

Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN là cơ sở giáo dục đại học đào tạo và nghiên cứu chất lượng cao và trình độ cao trong khoa học và công nghệ giáo dục, ứng dụng cho đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý và các nhóm nhân lực khác trong lĩnh vực giáo dục.

  • Khóa học
  • Sinh viên
  • Tốt nghiệp
  • Hài lòng
ĐĂNG KÝ
Cơ hội sinh viên