9

THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ

1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Lim Bouyheak               2. Giới tính: Nữ                                                                               

3. Ngày sinh: 6/10/1984                                                4. Nơi sinh: Campuchia                                                                               

5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số: 1808/ QĐ-CTHSSV, ngày 16 tháng 12 năm 2016                                                   

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo:                                                                                                                      

Luận án tiến sĩ đầu tiên được giao có tiêu đề “Trị liệu chấp nhận và cam kết cho bệnh nhân có rối loại trầm cảm (The effectiveness of ACT for clients with depression at Maryknoll Mental Health Program)”, có quyết định số QĐ 2073/QD-ĐT ngày 30/12/2016, được ban hành bởi Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.

Tên luận án được đổi thành: “Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý xã hội lên hành vi lái xe nguy cơ ở vị thành niên Campuchia (The effect of psychosocial factors on risky driving behaviors among Cambodian adolescents)”, theo Quyết định số 513/QĐ-ĐHGD ngày 14/03/2018 của Hiệu trưởng của Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.

Gia hạn thời gian học tập 2 năm tại Quyết định số:2146/QĐ-ĐHGD, ngày 03/12/2019 và Quyết định số 2063/QĐ-ĐHGD, ngày 14/12/2020

Buộc thôi học tại Quyết định số 2553/QĐ-ĐHGD, ngày 31/12/2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục

Được phép quay trở lại Trường để bảo vệ luận án 2377/QĐ-ĐHGD, ngày 14/09/2023 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục.

7. Tên đề tài luận án: Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý xã hội lên hành vi lái xe nguy cơ ở vị thành niên Campuchia

8. Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên  9. Mã số: 9310401.01

10. Cán bộ hướng dẫn khoa học:                                                                                                  

Cán bộ hướng dẫn 1: GS.TS. Đặng Hoàng Minh

Cán bộ hướng dẫn 2: GS.TS. Cindy J. Lahar

11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án:                                                                                                   

Nghiên cứu này phù hợp với các quan điểm lý thuyết cho rằng những thanh thiếu niên nhận thức hành vi lái xe nguy hiểm của bạn bè họ (ảnh hưởng của bạn bè) có điểm cao hơn ở cả bốn loại hành vi lái xe nguy hiểm: lái xe hung hăng, lái xe trong tình trạng say xỉn, lái xe mất tập trung và vi phạm luật giao thông khi đang lái xe. Tương tự, việc tìm kiếm cảm giác cũng dự đoán một cách có thống kê và theo chiều thuận bốn loại hành vi lái xe nguy hiểm. Nghiên cứu này mang lại kết quả tương tự rằng các hành vi lệch chuẩn chống đối xã hội, bao gồm các hành vi vi phạm quy tắc và hành vi hung tính – dự đoán một cách đáng kể và theo chiều thuận cả bốn loại hành vi lái xe nguy hiểm. Ngoài ra, nghiên cứu này không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức rủi ro và bất kỳ loại hành vi lái xe rủi ro nào.

Khi xem xét sâu hơn về mối liên hệ giữa việc vi phạm quy tắc chung và vi phạm luật lái xe, nghiên cứu này cho thấy thanh thiếu niên nữ có mức độ vi phạm quy tắc chung cao sẽ có mức độ vi phạm luật lái xe cao hơn so với nhóm nam. Tương tự, giới tính điều tiết có ý nghĩa thống kê mối quan hệ giữa ảnh hưởng của bạn bè và hành vi lái xe mất tập trung. Nữ giới có nhiều hành vi lái xe mất tập trung hơn nam giới do nhận thức của họ về hành vi lái xe nguy hiểm của bạn bè họ (ảnh hưởng đồng trang lứa). Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy sự điều tiết có ý nghĩa thống kê của giới tính đối với mối liên hệ giữa ảnh hưởng đồng trang lứa và việc vi phạm luật lái xe khi lái xe. Việc lái xe mạo hiểm của bạn bè họ ảnh hưởng nhiều hơn đến thanh thiếu niên nữ trong việc vi phạm luật lái xe khi lái xe so với thanh thiếu niên nam.

Điều thú vị là độ tuổi mà thanh thiếu niên bắt đầu lái xe không phải là yếu tố điều tiết mối quan hệ giữa các yếu tố rủi ro có thể thay đổi độc lập (ví dụ: hành vi lái xe của bạn bè) và các hành vi lái xe nguy hiểm (ví dụ: lái xe mất tập trung). Có bốn mối tương tác có ý nghĩa thống kê tồn tại giữa Số km trung bình lái xe mỗi ngày và các yếu tố tâm lý xã hội. Tất cả các tương tác có ý nghĩa thống kê đều cho thấy cùng một mô hình, trong đó thanh thiếu niên lái xe nhiều mỗi ngày cho thấy mối quan hệ mạnh mẽ hơn giữa các biến số phụ thuộc và biến số độc lập so với thanh thiếu niên lái xe tương đối ít trong một ngày.

12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: (nếu có)

Chính sách của chính phủ nhằm giảm thiểu tình trạng lái xe nguy hiểm ở thanh thiếu niên có thể tiếp cận theo hướng cung cấp các chương trình y tế công cộng để giúp nhận thức của thanh thiếu niên về việc lái xe của bạn bè cùng trang lứa trở nên chính xác hơn. Trong nghiên cứu này, yếu tố điều tiết về số vụ tai nạn mà thanh thiếu niên gặp phải được phát hiện là có liên quan đến mối quan hệ gia tăng giữa các yếu tố rủi ro tâm lý và hành vi lái xe nguy hiểm. Điều này cho thấy một mục tiêu can thiệp y tế công cộng khả thi khác nhằm giảm hành vi lái xe nguy hiểm ở thanh thiếu niên là khiến thanh thiếu niên nhận thức rõ hơn về hậu quả tiềm ẩn của tai nạn lái xe (ví dụ: số người bị liệt ở Campuchia do tai nạn lái xe).         

Đối với các chương trình hoặc biện pháp can thiệp an toàn đường bộ, điều quan trọng là phải điều chỉnh chương trình dựa trên các nhóm tuổi và giới tính vì tuổi tác và giới tính có liên quan đến hành vi lái xe nguy hiểm. Ví dụ, độ tuổi thanh thiếu niên có nhiều nguy cơ hơn trong bất kỳ hoạt động nào liên quan đến sức khỏe, bao gồm cả các hành vi lái xe nguy hiểm, do giai đoạn phát triển của họ khi não, cơ thể, tâm trí và nhận thức của các em liên tục thay đổi nhanh chóng. Các em có xu hướng tham gia vào các hoạt động mạo hiểm và hành vi lái xe vì ảnh hưởng của bạn bè đồng trang lứa và xu hướng tìm kiếm cảm giác mạnh, vi phạm quy tắc và các hành vi hung tính. Để ngăn chặn các hành vi lái xe nguy hiểm, điều quan trọng là tạo cho các em cơ hội thay đổi trong các tình huống hoặc hoạt động tích cực như các môn thể thao mạo hiểm, các hoạt động sáng tạo và có cường độ cao, hoặc để các em tham gia vào chiến dịch an toàn đường bộ có liên quan. Chương trình an toàn đường bộ cũng nên xem xét trao quyền cho thanh niên và bạn bè của các em trong việc tham gia nhiều hơn vào các chương trình an toàn đường bộ hoặc đào tạo lái xe có liên quan, để các em có sự phát triển tích cực hơn. Khi cung cấp can thiệp hoặc đào tạo cho các nhóm thanh thiếu niên, việc cân nhắc sự hỗ trợ và tham gia của phụ huynh sẽ rất có lợi. Như đã được chứng minh trong các nghiên cứu trước đây, sự hỗ trợ của cha mẹ có tác động gián tiếp và trực tiếp đến hành vi lái xe nguy hiểm của con cái họ. Hơn nữa, đào tạo hoặc nâng cao nhận thức về an toàn giao thông đường bộ cần chú ý nhiều hơn đến ảnh hưởng đồng trang lứa và các yếu tố tâm lý cá nhân khác mà có thể tác động đến cách ứng xử của thanh thiếu niên hay việc tham gia vào các hành vi lái xe nguy hiểm và các hoạt động gây nguy hiểm khác cho sức khỏe, thay vì nhận thức về rủi ro của cá nhân họ.

13. Những hướng nghiên cứu tiếp theo: (nếu có)

Việc xác nhận hướng quan hệ nhân quả giữa các yếu tố nguy cơ lái xe nguy hiểm và tâm lý xã hội trong các nghiên cứu tương lai là quan trọng. Nếu hướng quan hệ nhân quả được xác nhận, các nghiên cứu về yếu tố rủi ro tâm lý xã hội trong luận án này nên là mục tiêu can thiệp chính của y tế công cộng. Thứ hai, nghiên cứu trong tương lai cũng sẽ rất quan trọng để xác định tính chính xác trong nhận thức của thanh thiếu niên Campuchia về hành vi lái xe của bạn bè đồng trang lứa. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng thanh thiếu niên có xu hướng đánh giá quá cao những hành vi nguy hiểm của bạn bè cùng trang lứa, bao gồm cả hành vi lái xe (Bingham và cộng sự, 2016; Geber và cộng sự, 2021).

Các nghiên cứu trong tương lai nên khám phá sự khác biệt giữa người điều khiển xe máy và ô tô cũng như sự khác biệt về các nhóm tuổi, chẳng hạn như thanh thiếu niên, thanh niên và người lớn, để hiểu các mô hình hành vi cụ thể trong mỗi nhóm. Bởi vì hành vi của con người phức tạp hơn nên các nghiên cứu trong tương lai cần xem xét các yếu tố rủi ro, yếu tố bảo vệ và hành vi lái xe rủi ro trong các phân tích phức tạp hơn, chẳng hạn như phân tích phương trình cấu trúc, để hiểu vấn đề này.

Nghiên cứu này là nghiên cứu định lượng và không bao gồm các cuộc phỏng vấn định tính người tham gia. Các cuộc phỏng vấn định tính có thể cung cấp thêm thông tin chi tiết về kết quả nghiên cứu, chẳng hạn như những trường hợp chính xác hơn mà thanh thiếu niên lái xe trong tình trạng say rượu. Đây cũng sẽ là một lĩnh vực hữu ích cho nghiên cứu trong tương lai.

14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án:                                                                                

 (2022).  Relations between behavioral risk factors and risky driving among Cambodian adolescents.  Proceedings of the International Scientific Conference on the World in Crisis (pp. 207 – 216). Vietnam National University Press.

 (2023).  Relations between risk perception, perceptions of peers’ driving, and risky driving among Cambodian adolescents.  Frontiers in Psychology: Personality and Social Psychology, 14, doi: 10.3389/fpsyg.2023.1238945

    Retrieved from http://journal.frontiersin.org/article/10.3389/fpsyg.2023.1238945/full?&utm_source=Email_to_authors_&utm_medium=Email&utm_content=T1_11.5e1_author&utm_campaign=Email_publication&field=

&journalName=Frontiers_in_Psychology&id=1238945

Ngày       tháng     năm 200

Nghiên cứu sinh

(Kí và ghi rõ họ tên)

 

 

 

INFORMATION ON DOCTORAL DISSERTATION

 

 

1. First and last name of Ph.D.student: Lim Bouyheak                           2. Gender: Female                                                                               

3. Date of birth: October 06, 1984                                                           4. Place of birth: Cambodia                                                                

5. Admission decision number: 1808/ QĐ-CTHSSV  , day 16 month 12 year 2016                                                                        

6. Changes in academic process:

The first assigned doctoral dissertation was titled “The effectiveness of ACT for clients with depression at Maryknoll Mental Health Program”, with decision number QĐ 2073/QĐ-ĐT on 30/12/2016 from Rector of VNU University of Education.

The dissertation title was changed into: “The effect of psychosocial factors on risky driving behaviors among Cambodian adolescents”, as decision number 513/QĐ-ĐHGD ngày 14/03/2018 from Rector of VNU University of Education.

Extension of study time for 2 years in Decision No. 2146/QĐ-ĐHGD, dated December 3, 2019, and Decision No. 2063/QĐ-ĐHGD, dated December 14, 2020 from Rector of VNU University of Education..

Expulsion in Decision No. 2553/QĐ-ĐHGD, dated December 31, 2021, from Rector of VNU University of Education..

Allowed to return to the University to defend thesis 2377/QĐ-ĐHGD, dated September 14, 2023, from Rector of VNU University of Education.

7. Dissertation title: The effect of psychosocial factors on risky driving behaviors among Cambodian adolescents

8. Major: child and adolescent clinical psychology       9. Code: 9210401.01

10: Supervisors: (clearly list academic title, degree, full name)

1st Supervisor: Professor Dang Hoang Minh, PhD

2nd Supervisor: Professor Cindy J. Lahar, PhD

11. Summary of new findings of dissertation: (list a summary of new results of dissertation)

This study is in line with these theoretical concepts that adolescents who perceived their friends' risky driving behaviors (peer influence) reported higher scores in all four types of risky driving behaviors: aggressive driving, intoxicated driving, distracted driving, and violating the traffic law while driving. Similarly, sensation seeking significantly and positively predicted the four types of risky driving behaviors. This study yielded the same results that antisocial deviant behaviors, including rule-breaking behaviors and aggressive behaviors – significantly and positively predicted all four types of risky driving behaviors. Interestingly, this study did not find a significant association between risk perception and any type of risky driving behaviors. 

When looking further at the association between general rule breaking and violating the driving law, this study found that female adolescents with high levels of general rule breaking reported higher levels of violating the driving law when compared to the male group. Similarly, gender significantly moderated the relation between peer influence and distracted driving behaviors. Females were more involved in distracted driving behaviors than males due to their perception of their friends' risky driving behaviors (peer influence). Additionally, this study yielded a significant moderation of gender on the association between peer influence and violating the driving law while driving. Their friends' risky driving more influenced female adolescents regarding its association with violating the driving law while driving compared to male adolescents.

Interestingly, the age at which the adolescent began driving was not a moderator of relations between the independent variable risk factors (e.g., Friends’ Driving) and risky driving behaviors (e.g., Distracted Driving). Four significant interactions existed between the Average Number of Kilometers Driven per Day and the psychosocial factors. All the significant interactions showed the same pattern, with adolescents driving a lot per day showing a stronger relation between the dependent and independent variables than adolescents who drive relatively little in a day.

12. Practical application: (if any)

One potentially useful approach for government policy to reduce adolescent risky driving will be providing public health programs to make adolescents’ perceptions of their peers’ driving more accurate. In this study, one moderator finding was that the number of accidents an adolescent experienced was associated with an increased relation between psychosocial risk factors and risky driving behaviors. This suggests that another possible public health intervention target to reduce adolescent risky driving behavior might be making adolescents more aware of the potential consequences of driving accidents (e.g., the number of people paralyzed in Cambodia from driving accidents).         

For road safety programs or interventions, it will be important to tailor the programs based on age and gender groups because age and gender are related to risky driving behaviors. For example, the adolescent population is more at risk in any health-related activity, including risky driving behaviors, due to their developmental period when their brain, body, mind, and cognition keep changing rapidly. They tend to be involved in risky activities and driving behaviors because of their peer influence and tendency to seek sensation, rule-breaking, and aggressive behaviors. To prevent them from risky driving behaviors, it is important to offer them the opportunities to alter in positive situations or activities such as adventure sports, creative and intense activities, or a relevant road safety campaign or completion. The road safety program should also consider incorporating positive youth development to empower youths and their peers to get involved more in the relevant road safety programs or driving training. When providing intervention or training to adolescent groups, it is beneficial to consider parental support and involvement. As supported in the previous studies, parental support had an indirect and direct effect on their children’s risky driving behaviors. Furthermore, road safety training or awareness raising should pay more attention to peer influence and the other personal psychological factors that affect how adolescents behave or are involved in risky driving behaviors or any health-risk activity rather than their personal risk perception. 

13. Future research direction: (if any)

It will be important for future research to confirm the direction of causality among risky driving and psychosocial risk factors. If the direction of causality is confirmed, then the psychosocial risk factors studies in this dissertation should be key public health intervention targets. Second, future research will also be important to determine the accuracy of Cambodian adolescents' perceptions of their peers' driving behaviors. Research has found that adolescents tend to overestimate their peers' risky behaviors, including driving behavior (Bingham et al., 2016; Geber et al., 2021).

Future studies should explore the difference between motorcycle and car drivers and the difference in age groups, such as adolescents, young adults, and adults, to understand the particular behavioral patterns in each group. Because human behaviors are more complex, future studies should examine the risk factors, protective factors, and risky driving behaviors in more complex analyses, such as structural equation analysis, to comprehend this matter.

This study was quantitative research and did not include qualitative participant interviews. Qualitative interviews might have provided more details regarding study results, such as more precise circumstances under which adolescents engaged in intoxicated driving. This also would be a useful area for future research.

14. Thesis-related publication

 (2022).  Relations between behavioral risk factors and risky driving among Cambodian adolescents.  Proceedings of the International Scientific Conference on the World in Crisis (pp. 207 – 216). Vietnam National University Press.

 (2023).  Relations between risk perception, perceptions of peers’ driving, and risky driving among Cambodian adolescents.  Frontiers in Psychology: Personality and Social Psychology, 14, doi: 10.3389/fpsyg.2023.1238945

    Retrieved from http://journal.frontiersin.org/article/10.3389/fpsyg.2023.1238945/full?&utm_source=Email_to_authors_&utm_medium=Email&utm_content=T1_11.5e1_author&utm_campaign=Email_publication&field=

&journalName=Frontiers_in_Psychology&id=1238945

 

Day 22 month 08 year 2024

Ph.D.student

(Sign and write full name)

                                                                          

                                                                               Lim Bouyheak

Danh mục luận án Tiến sĩ mới
  • Thông báo tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Hoà

    BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoà với đề tài: “Quản lí văn hoá nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi” Chuyên ngành: Quản lí giáo dục Mã số: 9140114 Thời gian: 8 giờ 30’, ngày 14 tháng 01 năm 2026 Địa điểm họp trực tiếp: Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội              Nhà G7, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Kính mời các đồng chí quan tâm tới dự.
  • Thông tin về luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Hoà

    Thông tin về luận án Tiến sĩ 1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Hòa             2. Giới tính: Nữ 3. Ngày sinh:23/09/1988                                             4. Nơi sinh: Ninh Bình 5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số:1328/QĐ-ĐHGD, ngày 08 tháng 08 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục 6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: -  Được giao đề tài tiến sĩ: “Quản lý văn hóa học đường ở trường trung học phổ thông công lập chất lượng cao trong bối cảnh hiện nay" tại QĐ số: 1966/QĐ-ĐHGD, ngày 27 tháng 10 năm 2022 - Được chỉnh sửa tên đề tài thành: : “Quản lý văn hoá nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi” theo quyết định 2438/QĐ-ĐHGD ngày 28/08/2024 Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN 7. Tên đề tài luận án:Quản lý văn hoá nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi 8. Chuyên ngành:Quản lý giáo dục 9. Mã số:9 14 01 14 10. Cán bộ hướng dẫn khoa học:GS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộcvà PGS. TS. Nguyễn Thanh Lý 11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án: - Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về quản lý văn hóa nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên với khái niệm, đặc trưng và bảng biểu hiện văn hóa nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi cùng với mô hình quản lý văn hóa nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi. - Nghiên cứu thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý văn hóa nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi, từ đó đề xuất 6 giải pháp quản lý văn hóa nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng tổ chức biết học hỏi. - Triển khai khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp và thử nghiệm giải pháp 4 về tối ưu hóa lợi thế trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên của trường trung học phổ thông thực hành sư phạm để phát triển các hoạt động cộng đồng biết học hỏi Kết quả nghiên cứu đã góp phần làm rõ vấn đề lý luận và cung cấp hướng tiếp cận mới trong quản lý văn hóa nhà trường trung học phổ thông thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và chuyển đổi số trong giáo dục. Tác giả đã chứng minh được giả thuyết khoa học, hoàn thành các mục tiêu đề ra, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và đóng góp tích cực cho lĩnh vực quản lý văn hóa nhà trường. 12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: 12.1. Làm công cụ tham chiếu và đánh giá: - Bảng biểu hiện văn hóa nhà trường (VHNT) theo hướng tổ chức biết học hỏi có thể được điều chỉnh theo từng trường THPT thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên để góp phần giúp ban giám hiệu đánh giá thực trạng văn hóa tại đơn vị mình. Từ đó, nhận diện được điểm mạnh, điểm yếu để có sự điều chỉnh phù hợp. - Mô hình quản lý VHNT đã xây dựng có thể được cân nhắc điều chỉnh phù hợp với đặc điểm riêng từng trường để sử dụng làm khung tham chiếu cho các nhà quản lý trong việc tái cấu trúc quy trình quản lý nhà trường hiện đại. 12.2. Nâng cao hiệu quả quản lý tại các trường THPT thực hành sư phạm: - Hệ thống 06 giải pháp đề xuất có có thể cân nhắc áp dụng vào thực tiễn để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thúc đẩy tinh thần học tập suốt đời cho cả giáo viên và học sinh. - Đặc biệt, giải pháp về "Tối ưu hóa lợi thế trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên" giúp các trường giải quyết bài toán về nguồn lực, tăng cường sự kết nối hữu cơ giữa trường phổ thông và trường đại học sư phạm, tạo ra môi trường thực tập, rèn nghề và nghiên cứu khoa học hiệu quả. ​​​​​​​12.3. Hỗ trợ thực hiện đổi mới giáo dục và chuyển đổi số: Kết quả nghiên cứu cung cấp hướng tiếp cận mới giúp các nhà trường thích ứng nhanh chóng với Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nghị quyết 71 để chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản lý dựa trên giá trị và văn hóa học hỏi. Tư duy "tổ chức biết học hỏi" là nền tảng quan trọng để nhà trường thực hiện chuyển đổi số thành công, khuyến khích sự đổi mới sáng tạo trong dạy và học. ​​​​​​​12.4. Tài liệu tham khảo trong đào tạo và bồi dưỡng: Luận án có thể được sử dung như một phần tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo giáo viên, các trường cán bộ quản lý giáo dục trong việc biên soạn tài liệu giảng dạy, bồi dưỡng năng lực quản lý văn hóa nhà trường cho cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên sư phạm. 13. Những hướng nghiên cứu tiếp theo: mặc dù luận án đã giải quyết được các mục tiêu đề ra, nhưng để phát triển sâu rộng hơn đề tài quản lý VHNT theo hướng tổ chức biết học hỏi, tác giả đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo: 13.1. Mở rộng phạm vi và đối tượng khảo sát: - Nghiên cứu so sánh mô hình quản lý VHNT theo hướng tổ chức biết học hỏi giữa các trường THPT thực hành sư phạm với các trường THPT công lập bình thường hoặc các trường tư thục chất lượng cao để làm rõ hơn tính đặc thù và sự khác biệt. - Mở rộng địa bàn nghiên cứu ra phạm vi toàn quốc để kiểm chứng tính đại diện và khả năng nhân rộng của mô hình đã đề xuất. 13.2 Nghiên cứu chuyên sâu về tác động của chuyển đổi số: - Nghiên cứu sâu hơn về vai trò của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc hỗ trợ xây dựng và quản lý "tổ chức biết học hỏi" tại các trường THPT thực hành sư phạm. 13.3. Thử nghiệm đồng bộ các giải pháp: - Tiếp tục triển khai thực nghiệm 05 giải pháp còn lại (ngoài giải pháp 4 đã thử nghiệm) để đánh giá tính hiệu quả tổng thể và sự tương tác giữa các giải pháp trong thực tế quản lý. - Nghiên cứu dọc (longitudinal study) để đánh giá sự thay đổi bền vững của văn hóa nhà trường sau 3-5 năm áp dụng mô hình tổ chức biết học hỏi. 13.4. Nghiên cứu cơ chế chính sách: - Nghiên cứu đề xuất các cơ chế, chính sách cụ thể để thể chế hóa mối quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo giáo viên và trường thực hành sư phạm, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc xây dựng văn hóa cùng học hỏi và phát triển. 14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án: - Nguyễn Thị Hòa, Đặng Thị Mây (2022), Văn hóa học đường nhìn từ các mối quan hệ ngoài nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, tạp chí giáo dục, ISBN 2354-0753. - Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Thanh Lý (2023), Transforming school culture in University – Affiliated Secondary Schools, Hafpes 2023, University of Education, Vietnam National University, Hanoi, ISBN 987-604-369-697-4. - Nguyễn Thị Hòa (2024), Tổng quan nghiên cứu về xây dựng văn hóa học đường trong bối cảnh hiện nay, số 24 (số đặc biệt 5) tháng 6, tạp chí Giáo dục, ISBN 2354-0753. - Nguyễn Thị Hòa (2024), Xây dựng văn hóa học đường ở trường trung học phổ thông Khoa học Giáo dục, trực thuộc trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, đề tài KH&CN cấp cơ sở mã số đề tài QS.NH.22.21, Đại học Giáo dục, ĐHQGHN - Nguyễn Thị Hòa (2024), Developing a culture of learning in University – affiliated secondary schools in context of digital transofmation, Hafpes 2024, University of Education. ISBN 987-604-369-697-4. - Nguyễn Thị Hòa (2025), Manifestations and management of a Learning Organization Culture in University Affiliated Lab-Schools for Teacher Education Institutions: A Three-Level Model, Hafpes 2025, University of Education. ISBN 987-604-369-697-4. - Nguyễn Thị Hòa (2025), Enhancing Collaborative Mechanisms and Developing Learning Communities: A Strategic Solution for Managing School Culture in University-Affiliated Lab-Schools, Hafpes 2025, University of Education. ISBN 987-604-369-697-4 Ngày  30  tháng 10  năm 2025 Nghiên cứu sinh (Kí và ghi rõ họ tên)   Nguyễn Thị Hòa   INFORMATION ON DOCTORAL THESIS 1. Full name:Nguyen Thi Hoa                     2. Sex:Female 3. Date of birth:23/09/1988                       4. Place of birth:Ninh Binh 5. Admission decision number:Decision on the recognition of doctoral student No. 1328/QĐ-ĐHGD, dated August 8, 2022, by the Rector of the University of Education. 6. Changes in academic process: - Assigned the doctoral dissertation topic: “Management of school culture in high-quality public high schools in the current context” by Decision No. 1966/QĐ-ĐHGD, dated October 27, 2022, by the Rector of the University of Education. - The topic title was revised to: “Management of school culture in pedagogical practice high schools affiliated with teacher training institutions towards a learning organization approach” by Decision No. 2438/QĐ-ĐHGD, dated August 28, 2024, by the Rector of the University of Education, Vietnam National University, Hanoi. 7. Official thesis title:Management of school culture in pedagogical practice high schools affiliated with teacher training institutions towards a learning organization approach. 8. Major:Education management 9. Code:9 14 01 14 10. Supervisors:Prof. Dr. Nguyen Thi My Loc and Assoc. Prof. Dr. Nguyen Thanh Ly 11. Summary of the new findings of the thesis: - Systematization and development of theoretical framework: The thesis systematizes and develops the theoretical basis for managing school culture in pedagogical practice high schools affiliated with teacher training institutions. This includes defining the concept, characteristics, and observable indicators of school culture in such institutions, along with a proposed management model aligned with a learning organization approach. - Current state analysis and proposed solutions: The study investigates the current state and analyzes factors influencing the management of school culture in pedagogical practice high schools affiliated with teacher training institutions operating as learning organizations. Based on this analysis, six solutions for managing school culture in these institutions are proposed. - Validation and experimentation of solutions: The urgency and feasibility of the proposed solutions were surveyed. Specifically, Solution 4, which focuses on optimizing the advantages of being affiliated with teacher training institutions to foster learning-oriented community activities in pedagogical practice high schools, was experimentally implemented. The research findings contribute to clarifying theoretical issues and offering a novel approach to managing school culture in pedagogical practice high schools affiliated with teacher training institutions. This addresses the demands for general education reform and digital transformation in education. The author successfully validated the scientific hypothesis, achieved the stated objectives, ensured scientific rigor and practical relevance, and made positive contributions to the field of school culture management. 12. Practical applicability: 12.1. As a reference and assessment tool: - The table of school culture manifestations towards a learning organization approach can be adapted for each pedagogical practice high school affiliated with teacher training institutions to assist the school board in assessing the current state of culture at their unit. Thereby, strengths and weaknesses can be identified for appropriate adjustments. - The constructed school culture management model can be considered for adjustment to fit the specific characteristics of each school, serving as a reference framework for managers in restructuring modern school management processes. 12.2. Enhancing management efficiency at pedagogical practice high schools: - The system of 06 proposed solutions can be considered for practical application to build a healthy cultural environment, promoting a spirit of lifelong learning for both teachers and students. - In particular, the solution on "Optimizing the advantage of being affiliated with teacher training institutions" helps schools solve resource problems, enhance the organic connection between high schools and pedagogical universities, and create an effective environment for internships, vocational training, and scientific research. 12.3. Supporting educational innovation and digital transformation: - The research results provide a new approach to help schools adapt quickly to the 2018 General Education Program and Resolution 71, shifting from administrative management to value-based and learning culture-based management. The "learning organization" mindset is a crucial foundation for schools to successfully implement digital transformation and encourage innovation in teaching and learning. 12.4. Reference material for training and development: - The thesis can be used as reference material for teacher training institutions and educational management schools in compiling teaching materials and fostering school culture management capacity for administrators, teachers, and pedagogical students. 13. Further research directions:Although the thesis has addressed the set objectives, to further develop the topic of managing school culture towards a learning organization approach in depth and breadth, the author proposes several future research directions: 13.1. Expanding scope and survey subjects: - Comparative research on the school culture management model towards a learning organization approach between pedagogical practice high schools and regular public high schools or high-quality private schools to clarify specific characteristics and differences. - Expanding the research area to a national scale to verify the representativeness and scalability of the proposed model. 13.2. In-depth research on the impact of digital transformation: - Further research on the role of digital technology and Artificial Intelligence (AI) in supporting the construction and management of a "learning organization" at pedagogical practice high schools. 13.3. Synchronous testing of solutions: - Continue to experimentally implement the remaining 05 solutions (in addition to the tested Solution 4) to evaluate the overall effectiveness and interaction between solutions in actual management. - Conduct a longitudinal study to assess the sustainable changes in school culture after 3-5 years of applying the learning organization model. 13.4. Research on policy mechanisms: - Research and propose specific mechanisms and policies to institutionalize the cooperative relationship between teacher training institutions and practice schools, creating a favorable legal corridor for building a culture of mutual learning and development. 14. Thesis-related publications: - Nguyen Thi Hoa, Dang Thi May (2022), "School Culture from the Perspective of Out-of-School Relationships in the Context of Educational and Training Innovation: Current Situation, Causes, and Solutions," Journal of Education, ISBN 2354-0753. - Nguyen Thi Hoa, Nguyen Thi My Loc, Nguyen Thanh Ly (2023), "Transforming School Culture in University-Affiliated Secondary Schools," Hafpes 2023, University of Education, Vietnam National University, Hanoi, ISBN 987-604-369-697-4. - Nguyen Thi Hoa (2024), "Overview of Research on Building School Culture in the Current Context," Journal of Education, No. 24 (Special Issue 5), June, ISBN 2354-0753. - Nguyen Thi Hoa (2024), "Building School Culture at the University-Affiliated High School of Educational Sciences, University of Education, Vietnam National University, Hanoi," Basic-level Science and Technology Project, Project Code: QS.NH.22.21, University of Education, VNU-Hanoi. - Nguyen Thi Hoa (2024), "Developing a Culture of Learning in University-Affiliated Secondary Schools in the Context of Digital Transformation," Hafpes 2024, University of Education. ISBN 987-604-369-697-4. - Nguyen Thi Hoa (2025), "Manifestations and Management of a Learning Organization Culture in University Affiliated Lab-Schools for Teacher Education Institutions: A Three-Level Model," Hafpes 2025, University of Education. ISBN 987-604-369-697-4. - Nguyen Thi Hoa (2025), "Enhancing Collaborative Mechanisms and Developing Learning Communities: A Strategic Solution for Managing School Culture in University-Affiliated Lab-Schools," Hafpes 2025, University of Education. ISBN 987-604-369-697- October 30th, 2025 PhD Student (Signature and full name)  Nguyen Thi Hoa
  • Thông báo bảo vệ LATS cấp ĐHQG đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hống Mến

    Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi bảo vệ cấp Đại học Quốc gia đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hống Mến, với đề tài:
  • Tóm tắt và luận án tiến sĩ của NCS Đặng Minh Tuấn trước bảo vệ

    >>> Tóm tắt luận án tiến sĩ của NCS Đặng Minh Tuấn 
  • Tóm tắt và luận án tiến sĩ của NCS Trịnh Hồng Linh trước bảo vệ

    >>> Luận án tiến sĩ của NCS Trịnh Hồng Linh trước bảo vệ
  • Tóm tắt và luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Bắc trước bảo vệ

    >>> Tóm tắt luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Bắc

Cơ hội khi trở thành sinh viên

trường đại học giáo dục

Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN là cơ sở giáo dục đại học đào tạo và nghiên cứu chất lượng cao và trình độ cao trong khoa học và công nghệ giáo dục, ứng dụng cho đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý và các nhóm nhân lực khác trong lĩnh vực giáo dục.

  • Khóa học
  • Sinh viên
  • Tốt nghiệp
  • Hài lòng
ĐĂNG KÝ
Cơ hội sinh viên
Hỗ trợ
Mua vé