Thông tin về Luận án Tiến sĩ
1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Phương 2. Giới tính: Nữ
3. Ngày sinh: 21/12/1985 4. Nơi sinh: Lạng Giang - Bắc Ninh
5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số: 1328/QĐ-ĐHGD ngày 08/08/2022 của trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN
6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo:
Điều chỉnh đề tài từ “Kỳ vọng của cha mẹ và các vấn đề sức khoẻ tâm thần của con ở độ tuổi học sinh trung học cơ sở” sang đề tài: :Khả năng tự phục hồi trong mối quan hệ giữa trải nghiệm học đường với sức khoẻ tâm thần của học sinh trung học phổ thông” theo Quyết định số 3157/QĐ-ĐHGD ngày 14/12/2023 của Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.
7. Tên đề tài luận án: Khả năng tự phục hồi trong mối quan hệ giữa trải nghiệm học đường với sức khoẻ tâm thần của học sinh trung học phổ thông
8. Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên 9. Mã số: 9310401.03
10. Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Lệ Thu, TS. Hoàng Gia Trang
11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án:
Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy mối quan hệ giữa trải nghiệm học đường, khả năng tự phục hồi, sức khoẻ tâm thần đã được nghiên cứu rộng rãi, song vẫn còn tồn tại những khoảng trống quan trọng về cả về nội dung, cơ chế tác động, phương pháp tiếp cận và bối cảnh nghiên cứu. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng làm rõ mối quan hệ giữa ba yếu tố này trên đối tượng học sinh trung học phổ thông tại một đô thị lớn ở Việt Nam. Kết quả cho thấy khả năng tự phục hồi của học sinh tham gia nghiên cứu ở mức trung bình, có sự khác biệt theo giới tính và kết quả học tập. Các yếu tố trải nghiệm học đường nhìn chung được đánh giá khá tích cực, song tồn tại khác biệt đáng kể giữa các nhóm học sinh.
Phân tích tương quan và hồi quy khẳng định trải nghiệm học đường có mối liên hệ chặt chẽ với căng thẳng, lo âu và trầm cảm. Trong đó, áp lực học tập nổi lên như một yếu tố tác động mạnh nhất, cho thấy đây là yếu tố căng thẳng đóng vai trò trung tâm đối với sức khoẻ tâm thần của học sinh trung học phổ thông. Bắt nạt học đường và mối quan hệ học sinh - học sinh cũng là những yếu tố dự báo quan trọng, phản ánh vai trò then chốt của các trải nghiệm xã hội - cảm xúc trong môi trường học đường.
Bên cạnh đó, khả năng tự phục hồi được xác định là biến trung gian có ý nghĩa trong mối quan hệ giữa một số yếu tố của trải nghiệm học đường và sức khoẻ tâm thần. Các trải nghiệm học đường tích cực như quan hệ bạn bè và sự tham gia vào hoạt động của trường góp phần tăng cường khả năng tự phục hồi, từ đó giảm nguy cơ rối nhiễu tâm lý, trong khi đó bắt nạt học đường tác động tiêu cực đến sức khoẻ tâm thần, đồng thời làm gia tăng khả năng tự phục hồi và sự gia tăng đó có thể giảm nhẹ phần nào ảnh hưởng này ở học sinh trung học phổ thông. Tuy nhiên, khả năng tự phục hồi không đóng vai trò trung gian đối với áp lực học tập, cho thấy giới hạn của cơ chế tâm lý cá nhân trước các áp lực mang tính cấu trúc, hệ thống.
Phân tích kiểm định vai trò điều tiết cho thấy khả năng tự phục hồi không phải là yếu tố điều tiết phổ quát mà phát huy hiệu quả một cách có chọn lọc, chủ yếu trong các mối quan hệ xã hội có tính đe doạ trực tiếp. Cụ thể, khả năng tự phục hồi thể hiện vai trò điều tiết có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa bắt nạt học đường và các vấn đề căng thẳng, lo âu, trầm cảm. Khi mức độ khả năng tự phục hồi cao, tác động tiêu cực của trải nghiệm bắt nạt lên SKTT của học sinh giảm rõ rệt; ngược lại, ở nhóm học sinh có khả năng phục hồi thấp, ảnh hưởng này trở nên mạnh hơn, cho thấy mức độ dễ bị tổn thương cao trước các trải nghiệm xã hội tiêu cực. Trong khi đó, khả năng tự phục hồi không điều tiết đáng kể mối quan hệ giữa áp lực học tập hay quan hệ bạn bè với SKTT, qua đó cho thấy giới hạn của cơ chế bảo vệ này trước các tác động mang tính cấu trúc và kéo dài.
12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:
Về mặt thực tiễn, các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc thiết kế và triển khai các chương trình hỗ trợ sức khoẻ tâm thần cho học sinh ở bậc trung học phổ thông. Việc xác định áp lực học tập là yếu tố tác động mạnh, trực tiếp đến căng thẳng, lo âu và trầm cảm cho thấy nhu cầu cấp thiết cần điều chỉnh các hoạt động dạy học, kiểm tra - đánh giá… nhằm giảm thiểu nguy cơ đối với sức khoẻ tâm thần của học sinh. Đồng thời, phát hiện về vai trò bảo vệ có điều kiện của khả năng tự phục hồi gợi ý việc nên lồng ghép giáo dục kỹ năng cảm xúc - xã hội, quản lý căng thẳng và phục hồi tâm lý vào chương trình giáo dục cho học sinh. Kết quả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các chương trình phòng ngừa bắt nạt học đường và tăng cường các mối quan hệ xã hội tích cực trong nhà trường. Bên cạnh đó, mô hình mối quan hệ trải nghiệm học đường - khả năng tự phục hồi - sức khoẻ tâm thần có thể được sử dụng như một khung tham chiếu thực tiễn trong công tác sàng lọc, tư vấn tâm lý học đường và xây dựng chính sách giáo dục hướng tới bảo vệ và nâng cao sức khoẻ tâm thần cho học sinh trung học phổ thông.
13. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:
Trên cơ sở kết quả đạt được, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo một số hướng sau: Thứ nhất, cần triển khai các nghiên cứu trường diễn để kiểm định tiến trình và quan hệ giữa trải nghiệm học đường, khả năng tự phục hồi và sức khoẻ tâm thần của học sinh trung học phổ thông theo thời gian. Thứ hai, nên kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng với định tính nhằm làm rõ trải nghiệm chủ quan và cơ thế thích ứng tâm lý của học sinh trong các bối cảnh học đường khác nhau. Thứ ba, các nghiên cứu trong tương lai nên mở rộng mẫu nghiên cứu về mặt vùng miền, loại hình trường và nhóm học sinh dễ tổn thương để tăng tính khái quát. Cuối cùng, cần phát triển và đánh giá hiệu quả các chương trình can thiệp học đường nhằm giảm áp lực học tập, phòng ngừa bắt nạt và tăng cường khả năng tự phục hồi, từ đó kiểm chứng giá trị ứng dụng của các mô hình lý thuyết được đề xuất.
14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án:
Nguyen Thi Phuong, Tran Thi Le Thu (2023). Resilience in the relationship between depression and related factors in adolescents. Proceedings The 7th International conference on school Psychology “Promoting Mental Well-being in Schools”. VNUHCM Press, Page 510 - 524.
Nguyen Thi Phuong, Tran Thi Le Thu, Hoang Gia Trang (2023). Current situation of depression in high school students in Ha Noi. The 3rd Hanoi forum on Pedadogical and Educational Sciences. Octorber 27th, 2023, page 587 - 596.
Nguyễn Thị Phương (2023). Adolescent mental health in the context of the Covid-19 pandemic. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Tâm lý học, Giáo dục học trong bối cảnh biến đổi xã hội”. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tháng 8/2023, tr 756 - 767.
Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Thị Thắng, Đào Thị Diệu Linh, Nguyễn Thị Mai, Trần Thị Lệ Thu, Hoàng Gia Trang (2025). Thực trạng sức khoẻ tâm thần của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tạp chí Tâm lý – Giáo dục, Tập 31, Số 2, (tháng 2/2025), tr 92 - 95.
Ngày 25 tháng 02 năm 2026
Nghiên cứu sinh
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Phương
INFORMATION ON DOCTORAL THESIS
1. Full name: Nguyen Thi Phuong 2. Sex: Female
3. Date of birth: 21/12/1985 4. Place of birth: Lang giang – Bac Ninh
5. Admission decision number: 1328/QĐ-ĐHGD Dated 08/08/2022
6. Changes in academic process:
The research topic was adjusted from “Parental expectations and children’s mental health problems at the lower secondary school level” to “Resilience in the relationship between school experiences and mental health among high school students”, in accordance with Decision No. 3157/QĐ-ĐHGD dated December 14, 2023, issued by the Principal of the University of Education, Vietnam National University, Hanoi.
7. Official thesis title: Resilience in the relationship between school experiences and mental health of high school students
8. Major: Psychology. 9. Code: 9310401.03
10. Supervisors: Assoc.Prof.Dr. Tran Thi Le Thu, Ph.D. Hoang Gia Trang
11. Summary of the new findings of the thesis:
A review of domestic and international studies indicates that the relationships among school experiences, resilience, and mental health have been widely examined; however, important gaps remain in terms of research content, underlying mechanisms, methodological approaches, and contextual settings. In this context, the present study provides additional empirical evidence clarifying the relationships among these three factors among high school students in a major urban area of Vietnam. The results show that students’ resilience is at a moderate level, with significant differences by gender and academic performance. Overall, school experiences were evaluated relatively positively, although notable differences were observed across student groups.
Correlation and regression analyses confirm that school experiences are closely associated with stress, anxiety, and depression. Among these factors, academic pressure emerged as the strongest predictor, indicating that it represents a central stressor for the mental health of high school students. School bullying and peer relationships were also identified as important predictors, highlighting the critical role of social–emotional experiences within the school environment.
Furthermore, resilience was identified as a significant mediating variable in the relationships between several school experience factors and mental health outcomes. Positive school experiences, such as supportive peer relationships and active participation in school activities, contribute to strengthening resilience, thereby reducing the risk of psychological distress. In contrast, school bullying exerts a negative impact on mental health while simultaneously increasing resilience, and this increase may partially buffer its adverse effects among high school students. However, resilience did not mediate the relationship between academic pressure and mental health, indicating the limits of individual psychological mechanisms in the face of structural and systemic stressors.
Moderation analyses further demonstrate that resilience is not a universal moderator but operates selectively, primarily in social relationships involving direct threat. Specifically, resilience showed a statistically significant moderating effect in the relationship between school bullying and anxiety and depression. When resilience levels were high, the negative impact of bullying on students’ mental health was substantially attenuated; conversely, among students with low resilience, this impact was markedly stronger, indicating heightened vulnerability to negative social experiences. By contrast, resilience did not significantly moderate the relationships between academic pressure or peer relationships and mental health, underscoring the limited protective capacity of resilience against prolonged and structurally embedded stressors.
12. Practical applicability
From a practical perspective, the findings of this study provide an important scientific foundation for the design and implementation of mental health support programs for high school students. The identification of academic pressure as a strong and direct predictor of stress, anxiety, and depression highlights the urgent need to adjust teaching practices, assessment methods, and evaluation systems in order to reduce risks to students’ mental health. At the same time, the finding that resilience plays a conditional protective role suggests the importance of integrating social–emotional skills education, stress management, and psychological recovery into school curricula. The results also underscore the critical role of school-based bullying prevention programs and the promotion of positive social relationships within the school environment. In addition, the proposed model linking school experiences, resilience, and mental health may serve as a practical framework for mental health screening, school-based psychological counseling, and the development of educational policies aimed at protecting and promoting the mental health of high school students.
13. Further research directions
Based on the findings of this study, future research may be extended in several directions. First, longitudinal studies are needed to examine the developmental trajectories and dynamic relationships among school experiences, resilience, and mental health in high school students over time. Second, future studies should integrate quantitative and qualitative approaches to better capture students’ subjective experiences and psychological adaptation mechanisms across diverse school contexts. Third, research should expand sample diversity in terms of geographic regions, school types, and vulnerable student groups in order to enhance the generalizability of findings. Finally, there is a need to develop and rigorously evaluate school-based intervention programs aimed at reducing academic pressure, preventing bullying, and strengthening resilience, thereby empirically testing the practical applicability of the proposed theoretical models.
14. Thesis-related publications:
Nguyen Thi Phuong, Tran Thi Le Thu (2023). Resilience in the relationship between depression and related factors in adolescents. Proceedings The 7th International conference on school Psychology “Promoting Mental Well-being in Schools”. VNUHCM Press, Page 510 - 524.
Nguyen Thi Phuong, Tran Thi Le Thu, Hoang Gia Trang (2023). Current situation of depression in high school students in Ha Noi. The 3rd Hanoi forum on Pedadogical and Educational Sciences. Octorber 27th, 2023, page 587 - 596.
Nguyen Thi Phuong (2023). Adolescent mental health in the context of the Covid-19 pandemic. Proceedings of the International Scientific Conference: Psychology and Education in the Context of Social Transformation. Hanoi National University of Education (HNUE), August 2023, page 756 - 767.
Nguyen Thi Phuong, Nguyen Thi Thang, Dao Thi Dieu Linh, Nguyen Thi Mai, Tran Thi Le Thu, Hoang Gia Trang (2025). The current state of mental health among high school students in Hanoi. Journal of Psychology and Education, Vol. 31, No. 2, (February 2025), page 92 - 95.
Date: 25/02/2026
Signature:
Full name: Nguyen Thi Phuong